Câu chuyện này được lấy cảm hứng từ trận động đất năm 1995 tại Kobe, Nhật Bản.
Phát hành lần đầu tiên tại tòa soạn The New Yorker ngày 19 tháng 3 năm 2001.

110328_r20693_p886-320
Gian bếp đổ nát thuộc sự kiện Kobe, tàn tích sau cơn địa chấn 7.3 đội richter năm 1995 – ảnh chụp bởi Kenneth Hamm/ Alamy

Năm ngày liên tiếp rồi, cô chỉ ngồi trước màn hình tivi, mắt chăm chăm vào đống đổ nát của các ngân hàng và bệnh viện, những cửa hàng chìm trong lửa và các đường ray, đường điện ngầm rời rạc. Cô không hé một lời nào. Vùi mình dưới những chiếc gối trên ghế xô pha, miệng cô khép chặt, cô sẽ không trả lời cho đến khi Komura bắt chuyện với cô. Cô không lắc hay gật đầu. Komura không chắc rằng giọng của anh có xuyên suốt qua cô không nữa.

Vợ của Komura trở về từ đường lên phía bắc Yamagata, như anh được biết, không có bạn bè hay người thân nào của cô bị thương từ (vụ động đất) Kobe. Dù vậy, cô như cắm rễ ngay trước màn hình tivi từ sáng đến tối. Khi anh thức dậy, Komura sẽ tự làm cho mình một lát bánh mì nướng, một li cà phê rồi đi làm. Khi anh về nhà vào chiều tối, anh sẽ giúp bản thân mình bằng một bữa ăn nhẹ với bất kì thứ gì anh tìm thấy trong tủ lạnh và ngấu nghiến chúng. Mắt cô vẫn hướng về tin tức khuya khi anh đã chìm vào giấc ngủ. Với sự có mặt của anh, phần lớn, cô không ăn hay uống và không bao giờ đi vào nhà vệ sinh. Một bức tường đá im lìm bao phủ cô, Komura đã từ bỏ ý định vượt qua bức tường đó.

Komura là nhân viên bán hàng của một trong những cửa hàng linh kiện-âm thanh lâu đời nhất – “Làng Điện Tử” Akihabara của phố Tokyo. Anh đảm nhiệm công việc về công nghệ cao và kiếm hoa hồng rất khá từ mỗi giao dịch. Phần lớn khách hàng của anh là các y bác sĩ, những doanh nhân độc lập và những giám tỉnh giàu có. Anh đã làm công việc này suốt tám năm và kiếm lời ngay khi khởi nghiệp. Nền kinh tế vững mạnh, giá bất động sản tăng cao và dòng tiền chảy mạnh vào nước Nhật. Những chiếc ví khi ấy lúc nào cũng được nhét đầy những tờ mười ngàn yên nhật, con người ta đến chết cũng xài không hết chúng. Những thứ đắt đỏ nhất thì luôn xếp hàng đầu danh sách hết hàng bán.

Komura cao, mảnh khảnh và ăn mặc thời thượng. Anh đối đãi tốt với mọi người. Khi còn học bằng cử nhân, anh hẹn hò với rất nhiều phụ nữ. Nhưng khi kết hôn ở tuổi 26, ham muốn vui thú tình dục đã đơn thuần bí ẩn biến mất đi. Anh không ngủ với bất kì người đàn bà nào ngoại trừ vợ mình suốt năm năm hôn nhân của họ. Không hẳn những cơ hội chưa từng hiện hữu – nhưng anh đã đánh mất sự hứng thú vào những tình cảm hời hợt và tình một đêm. Anh ưu tiên việc về nhà sớm, có một bữa ăn thư giản với vợ, trò chuyện cùng cô một lúc trên ghế xô pha, sau đó vào phòng ngủ và làm tình. Đó là tất cả những gì anh muốn.

Dù chính bản thân anh không biết tại sao, nhưng Komura luôn cảm thấy những căng thẳng nơi anh tan biến khi anh và vợ ở cùng nhau dưới một mái nhà, lúc đó anh thực sự thư giản. Anh ngủ rất ngon khi ở cùng vợ, không bị quấy rầy bởi những giấc mơ luôn làm khó anh về chuyện quá khứ. Sự cương cứng nơi anh luôn ổn định, và đời sống tình dục của anh thực nồng ấm. Cái chết, chứng bệnh hoa liễu hay sự bao lao của vũ trụ đã không còn là mối bận tâm của anh nữa.

Vợ anh, ở phương diện khác, không ưa thích cuộc sống thời thượng, những kỳ vọng về Yamagata, lẫn sự xô bồ thị thành của Tokyo. Cô nhớ cha mẹ và hai người chị mình,và cô sẽ về nhà ngay khi có nhu cầu. Cha mẹ cô điều hành một quán trọ phát đạt, giúp tài chính của họ luôn thoải mái. Cha cô luôn hết mình vì đứa con gái út và ông vui vẻ trả phí khứ hồi cho cô. Có đôi lần, Komura trở về nhà từ nơi làm thấy vợ đã biết mất và một tờ ghi chú đặt trên bàn ăn nói với anh rằng cô sẽ thăm ba mẹ một thời gian. Anh chưa từng phản đối. Anh chỉ đợi cô quay về, cô luôn làm như thế sau một tuần hoặc mười ngày cùng với một tâm trạng tốt.

Nhưng bức thư vợ anh để lại cho anh năm ngày sau trận động đất thì khác: “Em sẽ không bao giờ quay lại,” cô đã viết thế, và ra đi với một lời giải thích đơn giản những rõ ràng lý do vì sao cô không muốn sống với Komura nữa. “Vấn đề là anh chưa từng cho tôi thứ gì cả,” cô viết.”Hoặc, để nói một cách chính xác hơn, trong anh chẳng có gì mà anh có thể trao tôi cả. Anh tốt bụng, tử tế và đẹp trai, nhưng sống với anh như sống với một khối không khí. Không phải lỗi của anh. Có rất nhiều người đàn bà sẽ yêu anh. Nhưng xin anh đừng gọi cho tôi. Hãy bỏ mặc những thứ mà tôi để lại.”

Thực tế không đúng như cô nói về những gì cô bỏ lại đằng sau. Quần áo, giày dép, dù, cốc cà phê, mấy sấy tóc của cô: tất cả đã biến mất. Hẳn là cô đã đóng gói chúng trong những chiếc hộp và vận chuyển chúng ra ngay sau khi anh rời đi làm vào sáng hôm đó. Những thứ duy nhất trong ngôi nhà có thể gọi là “những thứ của cô” là chiếc xe đạp cô dùng để mua sắm và một vài cuốn sách. Những đĩa nhạc của nhóm The Beatles và Bill Evans mà Komura đã sưu tầm trong thời còn học cử nhân cũng đã biến mất.

Ngày hôm sau, anh cố gắng gọi điện cho nhà ba mẹ vợ tại Yamagata. Mẹ vợ trả lời điện thoại và nói rằng vợ anh không muốn nói chuyện với anh. Giọng của bà có phần hối lỗi. Bà nói vói anh rằng vợ anh sẽ gửi cho anh những chứng từ ly hôn cần thiết sớm và anh nên ký chúng rồi gửi lại tức thì.

Komura đáp rằng anh sẽ không gửi chúng lại ngay. Đây là vấn đề hệ trọng, và anh cần thời gian để nghĩ thấu đáo.

“Con có thể nghĩ về chúng cặn kẽ bao nhiêu cũng được, nhưng mẹ không nghĩ điều đó sẽ thay đổi được gì,” mẹ vợ anh đáp.

Bà hẳn đã đúng, Komura nghĩ. Vấn đề không phải là anh sẽ nghĩ ngợi trong bao lâu, mọi thứ sẽ không còn như trước. Anh chắc chắn điều đó.

A bridge in Nishinomiya, Japan, fourteen miles from Kobe, after an earthquake struck on January 17, 1995.
Một cây cầu ở Nishinomiya, cách tâm địa chấn Kome 14 dặm, là tàn tích sau cơn địa chấn thuộc ngày 17 tháng 1 năm 1995 Ảnh chụp từ Sankei Archive/ Getty

Ngay khi anh gửi những giấy tờ đi, Komura đã xin công ty nghỉ phép một tuần. Tháng hai khi ấy trôi qua chậm rãi, anh cũng đã nói với chủ công ty về những gì đã xảy đến đời anh. Anh không hề bị cản trờ về sự chấp thuận.

Một đồng nghiệp của Komura tên Sasaki đã đến gặp anh vào giờ ăn trưa và nói:”Tôi nghe anh đã xin một khoảng nghỉ phép. Anh đang lên kế hoạch để làm điều gì à?”

“Tôi không biết”, Komura nói. “Tôi nên làm điều gì?”

Sasaki độc thân, trẻ hơn Komura ba tuổi. Anh có một đầu óc tinh tế và mái tóc ngắn, anh đeo một chiếc kính mặt tròn, gọng vàng. Anh ta nói quá nhiều và ở anh luôn bao quanh một sự tự tin quá mức, nhiều người không ưa thích điều đó ở anh, nhưng anh có một mối liên hệ tương đối ôn hòa với Komura dễ tánh.

“Cái quái gì cơ-trong suốt kì nghỉ phép, tạo sao không đi đến một nơi hay ho nào đó?”

“Một ý tưởng không tồi”, Komura đáp.
“Anh muốn đi đâu?”
“Sao anh hỏi vậy?”

Sasaki nheo mắt và hắng giọng. “Thành thực mà nói. Tôi có một gói hàng nhỏ mà tôi muốn gửi đến Kushiro, và tôi mong anh sẽ mang nó đến đó cho tôi. Hẳn điều đó là anh thực hiện cho tôi một ân huệ lớn, và tôi rất vui lòng trả phí tiền vé. Tôi còn có thể bao chi phí khách sạn cho anh nữa.”

“Một gói hàng nhỏ?”

“Như thế này này”, Sasaki nói, bàn tay anh tạo hifh một khối vuông bốn inch.”Không hề nặng.”

“Một thứ gì phục vụ cho công việc?”

Sasaki lắc đầu.”Không hẳn”, anh nói. “Rất riêng tư, tôi không muốn nó lộ liễu ra ngoài, lý do đó mà tôi không thể đặt gửi nó đi. Tôi thực mong anh có thể chuyển nó đi bằng tay, nếu có thể. Lẽ ra tôi đúng là phải tự làm lấy, nhưng tôi không có thời gian để bay suốt quãng đến Hokkaido.”

“Là thứ gì đó quan trọng?”

Cái miệng đang khép của anh ta cong lên đôi chút, Sasaki gật đầu.”Không phải là hàng dễ vỡ, không phải vật liệu nguy hiểm nốt. “Không thiết phải lo lắng về nó. Người ta sẽ không bắt anh dừng lại khi họ quét X-ray gói hàng tại sân bay. Tôi hứa sẽ không khiến anh gặp rắc rồi gì đâu. Lí do duy nhất mà tôi không kí gởi nó là vì tôi không ưa thích việc đó.”

Hokkaido vào tháng hai thường có tiết trời se lạnh, Komura biết điều đó, nhưng lạnh hay nóng thì với anh thì như nhau cả.

“Vậy tôi sẽ gửi gói hàng đó vào tay ai?”

“Em tôi. Em gái tôi. Cô ta sống ở đó.”

Komura chấp thuận đề nghị của Sasaki. Nghĩ quá nhiều cũng đâm ra phiền hà. Anh không có lý do để từ chối, và không có việc gì khác để làm. Sasaki gọi cho hãng hàng không ngay tức thì và đặt vé cho hai ngày sau đó.

Tại nơi làm việc ngày tiếp theo, anh ta trao cho Komura một chiếc hộp giống cái mà người ta đựng tro cốt, chỉ là nó nhỏ hơn, được gói bằng giấy manila. Đánh giá theo cảm nhận, nó được làm từ gỗ. Nó nặng như không có gì. Dãi băng trong suốt được quấn quanh trên mặt giấy. Komura giữ nó trong tay và tìm hiểu về nó trong giây lát. Anh lắc nhẹ nó, nhưng chẳng nghe thấy vật dì chuyển động bên trong.

“Em gái tôi sẽ đón anh ở sân bay,” Sasaki nói. “Cô ấy sẽ thu xếp cho anh một phòng. Những gì anh cần là gặp em ấy ở cổng.”

Komura rời khỏi nhà với chiếc hộp đựng trong hành lí, anh gói nó trong một cái áo thun dày. Máy bay đông người hơn anh tưởng. Tại sao những con người này lại rời Tokyo đến Kushiro giữa tiết trời mùa đông? anh tự hỏi.

Tin tức buổi sáng ngập những bài tường thuật về trận động đất. Anh đọc chúng từ đầu đến cuối chuyến bay. Số người thương vong đang ngày một tăng lên. Nhiều khu vực vẫn chưa có nước và điện, và vô số người mất nhà cửa. Mỗi tựa báo đều chứa đựng thảm kịch mới, nhưng với Komura – những thảm kịch này chỉ đại diện cho những minh chứng thiếu chiều sâu. Dư âm của trận động đất với anh như đơn thuần là một tiếng vọng xa thẳm. Điều duy nhất mà anh thực sự để tâm đến là sự tách biệt giữa với người vợ ngày một xa hơn.

Khi anh trở nên mệt mỏi khi phải suy nghĩ về vợ mình và theo dõi đủ loại tin tức, anh khép mắt và ngủ thiếp đi. Khi thức giấc, anh lại nghĩ về vợ. Tại sao cô đã theo dõi những tin tức về trận động đất với cường độ như thế, từ sớm đến tối, không ăn không ngủ? Cô đã thấy những điều gì mà anh không hề biết?

Hai phụ nữ trẻ tuổi mang áo khoác có kiểu dáng và màu sắc giống nhau bước lại gần anh tại sân bay. Một người có làn da khá trắng và cao khoảng một mét sáu với mái tóc ngắn. Khu vực từ mũi đến môi trên của cô như được mở rộng một cách kì lạ, theo cái cách khiến Komura nghĩ đến loài thú có vuốt đang đội tóc. Người phụ nữ còn lại cao chừng hơn một mét năm tư và cô sẽ xinh hơn nếu mũi cô không nhỏ như thế. Mái tóc dài của cô trải dọc xuống vai. Tai cô lộ rõ và nốt ruồi bên bĩu tai phải của cô được nổi bật nhờ khuyên tai cô đeo. Cả hai phụ nữ nhìn ước chừng họ đang giữa tuổi đôi mươi. Họ dẫn anh Komura đến một hiệu cà phê ở sân bay.

“Xin chào Keiko Sasaki,” người phụ nữ cao hơn nói. “Anh trai tôi nói rằng anh đã giúp đỡ anh ấy rất nhiều. Đây là bạn tôi Shimao.”

“Hân hạnh được gặp cô,” Komura đáp.

“Chào anh,” Shimao nói.

“Anh trai tôi nói rằng vợ anh đã mất,” Keiko Sasaki nói, với biểu hiện tôn trọng.

Komura đợi trong giây lát trước khi đáp lời, “Không, cô ấy chưa mất.”

“Tôi vừa nói với anh trai trước ngày hôm qua. Tôi chắc chắn anh ta rõ ràng về việc anh đã mất vợ.”

“Tôi có. Cô ấy rời bỏ tôi. Nhưng, theo như tôi được biết, cô ấy vẫn sống và khỏe mạnh.”

“Điều đó thật lạ. Tôi không thể nào nghe nhầm về điều gì đó quan trọng.” Cô ném vào anh một ánh nhìn thương xót. Komura bỏ một ít đường vào cốc cà phê của anh và khuất nó nhẹ nhàng trước khi nhấp một ngụm. Thứ đồ uống có vị nhạt, không có gì để bàn về nó. Mình đang làm cái quái gì ở đây nhỉ? anh tự hỏi.

“Chà, tôi đoán tôi đã nghe nhầm về nó. Tôi không thể hình dung cách nào khác để giải thích về sự nhầm lẫn.” Keiko Sasaki nói, rõ ràng là cô đã thỏa mãn. Cô hít một hơi sâu và cắm môi dưới của mình. “Xin hãy lượng thứ cho sự thô lỗ của tôi.”

“Đừng lo về việc đó. Dù gì, cô ấy cũng đã đi rồi.”

Shimao không nói lời nào khi Komura và Keiko nói, nhưng cô ta cười và giữ ánh mắt vào Komura. Cô có vẻ thích anh. Anh có thể đoán qua biểu hiện và ngôn ngữ cơ thể tinh tế của cô. Một sự im lặng ngắn trôi qua giữa họ.

“Dù gì, hãy để tôi đưa cô gói hàng quan trọng tôi đã mang theo,” Komura nói. Anh mở khóa hành lí và kéo chiếc hộp khỏi các nếp áo thun dày mà anh đã bọc nó bên trong.

Keiko duối hai tay qua bàn, ánh mắt đầy cảm xúc của cô không rời khỏi gói hàng. Sau khi kiểm tra trọng lượng của nó, cô làm điều tương tự như Komura đã làm và lắc chiếc hộp cạnh tai cô. Cô lóe lên một nụ cười với anh như dấu hiệu rằng mọi thứ đều ổn, và rồi cô tuồn gói hàng vào chiếc túi quá cỡ của mình.

110328_a15674_g2048-600
“Con không hề lãng phí đời mình cho internet – Con đang xây dựng thương hiệu của riêng mình.”

 
“Tôi cần thực hiện một cuộc gọi,” cô nói. “Anh có phiền không khi tôi được mạn phép tỏng giây lát?”

“Không hề,” Komura nói. “Cứ tự nhiên.”

Keiko choàng túi lên vai cô và tiến đến buồng điện thoại cách xa đó. Komura nghiên cứu cách cô bước đi. Nửa thân trên của cô bất động, trong khi mọi thứ từ hông trở xuống thì trải rộng, uyển chuyển, những bước đi điệu nghệ. Anh có cảm tưởng rằng anh đã chứng kiến một số thời điểm ở quá khứ bị đột ngột bị xô đẩy vào hiện tại.

“Anh ở Hokkaido bao giờ chưa?” Shimao hỏi.

Komura lắc đầu.

“Vâng, tôi biết. Nó là một nơi xa để đến.”

Komura gật đầu. Sau đó anh quay đầu nhìn chừng xung quanh. “Lạ thật đấy,” anh ta nói, “ngồi đây như thế này, không khiến tôi cảm thấy tôi đây đi được xa như thế.”

“Bởi vì anh đi máy bay. Những chuyến bay thì nhanh cực kì. Tâm trí anh còn không theo kịp thân anh nữa là.”

“Liệu anh có muốn thực hiện một chuyến đi dài như thế?”

“Tôi đoán là có,” Komura nói.

“Bởi vì vợ anh bỏ đi?”

Komura gật đầu.

“Dù anh đi bao xa, anh không thể né tránh được bản thân mình,” Shimao nói.

Komura chăm chú nhìn vào bát đường khi cô nói, nhưng rồi anh đưa mắt lên nhìn vào cô.

“Đúng vậy,” anh nói. “Dù bạn đi bao xa, bạn không bao giờ có thể né tránh khỏi bản thân. Nó như một chiếc bóng. Nó theo đuổi bạn bất kì nơi đâu.”

Shimao nhìn thẳng vào Komura. “Tôi cá anh vẫn yêu cô ấy, phải vậy không?”

Komura né tránh câu hỏi. “Cô là bạn của Keiko Sasaki?”

“Phải. Chúng tôi làm việc cùng nhau.”

“Loại công việc gì?”

Thay vì trả lời anh, Shimao hỏi, “anh có đói bụng không?”

“Tôi không biết,” Komura nói. “Tôi vừa cảm thấy đói lại cảm thấy không đói.”

“Hãy đi và kiếm chút gì đó nóng nóng, cả ba chúng ta. Ăn thứ gì đó nóng nóng sẽ giúp anh thư giản.”

Shimao lái xe Subaru bốn bánh cỡ nhỏ. Keiko Sasaki ngồi kế Shimao, và Komura ngồi ở hàng ghế chật chội phía sau. Không có gì đặc biệt về cách mà Shimao lái xe cả, nhưng những âm thanh ở phía sau thật kinh khủng, hệ thống treo gần như đã văng ra khỏi xe. Chiếc xe hẳn đã trãi qua hàng trăm ngàn dặm. Hộp số tự động sẽ sập xuống ngay khi quá tải, và lò sưởi thì vừa nóng vừa lạnh. Khép chặt mắt mình, Komura tưởng tượng như mình đang bị nhốt trong một chiếc máy giặt.

Băng tuyết không được đọng lại trên các con phố của Kushiro, nhưng những đụn băng bẩn lạnh vẫn sừng sững khắp nơi ở hai bên đường. Những đám mây dày lơ lửng ở dưới thấp và dù hoàng hôn vẫn chưa buông xuống, mọi thứ đã tối và vắng vẻ. Những cơn gió tốc qua con phố một cách sắt lạnh. Không một ai đang đi bộ bên ngoài cả. Thậm chí đèn giao thông trông như đã bị đóng băng rồi vậy.

“Đây là nơi có ít tuyết nhất của Hokkaido,” Keiko giải thích bằng một giọng nói to rõ, quay về về phía Komura. “Chúng ta đang ở trên bờ biển, gió thì thổi mạnh, nên bất kì thứ gì chồng lên nhau sẽ bị thôi tung lên cả. Trời lạnh, lạnh đến phát cóng. Đôi lúc cái giá lạnh đó như đã lấy đi đôi tai của anh vậy.”

“Anh từng nghe về những người say rượu đã chết cóng khi đang ngủ trên đường phố chưa?,” Shimao nói.

“Cô có biết tìm gấu ở quanh đây không?” Komura hỏi. (* Bear – Beer – Komura phát âm sai)

Keiko cười khúc khích và quay sang Shimao. “Gấu!”

Shimao cũng cười khúc khích theo.

“Tôi không biết nhiều về Hokkaido,” Komura nói bằng cách bào chữa.

“Tôi biết một câu chuyện hay về loài gấu,” Keiko nói. “Đúng thế không, Shimao?”

“Câu chuyện tuyệt vời!” Shimao đáp.

Nhưng cuộc trò chuyện giữa họ đứt đoạn ngay ở đó, và chẳng một ai kể chuyện về gấu.

Komura không yêu cầu nghe chuyện về chúng. Ngay sau đó họ đã đến nơi, một hiệu mì lớn ngay đường cao tốc. Họ đỗ xe ở bãi và đi vào trong.

Komura uống bia và một phần mì ramen nóng hổi. Nơi này bẩn và trống trải, bàn và ghế kêu ọp ẹp, món mì thật kinh khủng và khi anh ăn xong. Komura thực tế là đã cảm thấy thư giản hơn.

“Hãy nói tôi biết đi anh Komura,” Keiko nói, “anh có điều gì muốn làm ở Hokkaido không? Anh trai tôi nói rằng anh sẽ dành cả tuần ở đây.”

Komura nghĩ về điều đó trong chốc lát nhưng chẳng nảy ra ý gì về ý định nào mà anh muốn làm cả.

“Suối nước nóng thì sao nhỉ? Tôi biết một ngôi làng nhỏ không xa đây lắm.”

“Không hẳn là ý kiến tồi,” Komura nói.

“Tôi cam đoan anh sẽ thích. Nó rất tuyệt. Không có gấu hay gì cả.”

Hai người phụ nữ lại nhìn nhau và cười.

“Anh có phiền không nếu tôi hỏi về vợ anh?” Keiko hỏi.

“Tôi không phiền.”

“Cô ấy bỏ đi lúc nào?”

“Hừm…năm ngày sau trận động đất, vậy tính ra là đã hai tuần rồi.”

“Anh có việc gì phải làm với cơn động đất không?”

Komura lắc đầu. “Hoàn toàn không. Tôi không nghĩ thế.”

“Tôi vẫn băn khoăn liệu giữa chúng có mối liên hệ nào không,” Shimao nghiêng đầu nói.

“Đúng thế,” Keiko nói. “Chỉ khi anh không thấy được nó ra sao.”

“Là những điều gì?” Komura hỏi.

“Giống như nói về những gì xảy ra với với một ai đó mà tôi biết,” Keiko nói.

“Ý cô là Saeki?” Shimao hỏi.

“Chính xác,” Keiko nói. “Chính anh chàng ấy-Saeki. Anh sống ở Kushiro. Anh sắp bốn mươi tuổi. Nhà tạo mẫu tóc. Vợ anh ta đã nhìn thấy đĩa bay năm ngoái. Cô đang lái xe ven thị trấn một mình lúc nửa đêm và cô đã thấy một đĩa bay lớn đáp trên cánh đồng. Bất ngờ làm sao! Như trong phim ‘Close Encounters’ vậy. Một tuần sau, cô bỏ nhà đi. Biến mất và không bao giờ quay lại. Họ không hề có mâu thuẫn hay vấn đề gì cả.

“Và đó là bởi vật thể bay ấy gây ra?” Komura hỏi.

110328_a15580_g2048-600
“Tốt hơn anh nên quay đầu lại-những gì họ có chỉ là pho mát.”

“Tôi không biết tại sao. Cô ấy chỉ đột nhiên bỏ đi. Không để lại giấy hay gì cả. Cô có hai con ở trường tiểu học, và cô chỉ thế mà bước đi. Không có tin gì về cô từ lúc ấy, Keiko nói. “Suốt tuần lễ trước khi cô bỏ đi, những gì cô làm là nói với mọi người về đĩa bay. Không thể ngăn cô ấy lại. Cô ấy cứ liên tục đề cập không ngừng về sự to lớn và đẹp đẽ của thứ đó.”

Cô ngừng lại và để câu chuyện lắng đi.

“Vợ tôi có để lại giấy nhắn,” Komura nói. “Và chúng tôi sẽ không hề có con.”

“Vậy trường hợp của anh tốt hơn đôi chút so với anh Saeki,” Keiko nói.

“Phải. Con trẻ tạo nên sự khác biệt lớn,” Shimao gật đầu và nói.

“Cha của Shimao bỏ nhà đi khi cô bảy tuổi,” Keiko giải thích với một cái cau mày. “Bỏ đi cùng em gái vợ.”

Một sự im lặng bao trùm lấy họ.

“Có thể vợ Saeki không bỏ đi, cô ta bị người ngoài hành tinh bắt lên đĩa bay.” Komura nói, để thay đổi đề tài.

“Có khả năng thế,” Shimao nói với vẻ ảm đạm. “Lúc nào anh cũng sẽ nghe về những chuyện như thế.”

“Ý cô như là khi việc đang-đi-bộ-dọc-trên-phố-và-một-con-gấu-ăn-thịt-cô ấy hả?” Keiko hỏi. Hai người phụ nữ cười toang.

Cả ba người họ rời cửa hiệu mì và đi đến một khách sạn tình yêu gần đó. Nó nằm ven thị trấn, trên một con đường kì lạ ngay nơi khách sạn tình yêu nằm xen kẽ với các cửa hiệu mai táng. Khách sạn Shimao chọn là một tòa nhà khác thường, cấu trúc trông giống như một lâu đài Châu Âu. Một lá cờ đỏ bay ở cột tháp cao nhất của tòa nhà.

Keiko nhận chìa khóa ở quầy lễ tân, và họ đi thang máy lên phòng. Cửa sổ thì nhỏ, so với chiếc giường to đến mức ngớ ngẩn. Komura treo áo khoác lên một cái móc và đi vào nhà vệ sinh. Trong lúc anh vắng mặt, hai người phụ nữ đã chuẩn bị xong nhà tắm, điều chỉnh ánh đèn dịu đi, bật lò sưởi, mở tivi, khảo sát đơn hàng vận chuyển từ nhà hàng địa phương,kiểm tra công tắc điện ở đầu giường và xem các món có trong tủ lạnh.

“Chủ cho thuê là bạn tôi,” Keiko nói. “Tôi nhờ họ cung cấp cho tôi một căn phòng loại lớn. Nó là khách sạn tình yêu, nhưng đừng để điều đón bận tâm anh nhé. Anh không bận tâm chứ?”

“Không hẳn,” Komura nói.

“Sao anh không đi tắm đi? Tôi đã làm đầy bồn rồi.”

Komura làm như anh được dặn. Bồn lắm rất lớn. Komura cảm thấy không thoải mái ngâm mình trong nó một mình. Những cặp đôi đến khách hạn này chắc hẳn là tắm cùng nhau.

Khi anh bước ra từ phòng tắm, Komura đã ngạc nhiên khi thấy Keiko Sasaki đã đi khỏi. Shimao vẫn ở đó, uống bia và xem tivi.

“Keiko về nhà rồi,” Shimao nói. “Cô ấy muốn tôi thứ lỗi giùm và nói với anh là cô sẽ quay lại vào sáng mai. Anh có phiền không nếu tôi ở lại đây một lát và uống bia không?”

“Không,” Komura nói.

“Anh chắc là không vấn đề gì chứ? Như, anh muốn ở một mình, hoặc anh không thể thư giản nếu ai hoặc thứ gì đó ở quanh?”

Komura khẳng định rằng không vấn đề gì. Uống bia của anh và làm khô tóc bằng khăn tắm, anh xem tivi với Shimao. Là một tin tức đặc biệt về trận động đất Kobe. Những bức ảnh giống nhau liên tục xuất hiện: đề cập về các tòa nhà, những đường phố, người phụ nữ già đầm đìa nước mắt, sự hoang mang & phẫn nộ vô bờ. Khi một bài quảng cáo xuất hiện, Shimao dùng điều khiển để tắt tivi.

“Nói chuyện nào,” cô nói,”khi chúng ta còn ở đây.”

“Tốt thôi,” Komura nói.

“Chúng ta nên nói về điều gì?”

“Trong xe, cô và Keiko nói gì đó về một chú gấu, nhớ chứ? Cô nói đó là một câu chuyện tuyệt vời.”

“Ồ, phải,” cô gật đầu nói. “Câu chuyện của gấu.”

“Chắc rồi, sao không chứ?”

Shimao lấy bia tươi từ tủ lạnh và rót đầy cả hai ly của họ.

“Câu chuyện đó chút thô tục,” cô nói. “Anh không phiền chứ?”

Komura lắc đầu. “Không, tiếp tục đi.”

“Ý tôi là, vài người đàn ông không thích nghe một phụ nữ kể về một số loại truyện nhất định.”

“Tôi thì không.”

“Nó là thứ thực tế đã xảy đến với tôi, vậy nên có chút rối rắm.”

“Tôi sẵn lòng nghe nếu cô ỔN với nói.”

“Tôi ỔN,” Shimao nói, “nếu anh ỔN.”

“Tôi ỔN,” Komura nói.

“Ba năm trước-khoảng độ thời điểm tôi học đại học-tôi quen một gã này. Anh ta lớn hơn tôi một tuổi, và anh là người đầu tiên tôi ngủ cùng. Ngày nọ, cả hai chúng tôi đi leo núi-tại dãy núi hướng lên phía bắc.” Shimao uống một ngụm bia. “Đó là mùa thu, có rất nhiều gấu ở đó trên các ngọn đồi. Tại thời điểm đó của năm gấu sắp sửa ngủ đông, chúng tìm kiếm thức ăn và thực sự nguy hiểm. Đôi khi chúng tấn công con người. Chúng sẽ làm một việc cực kì tệ với một người leo núi ba ngày trước khi anh ta rời đi. Vài người đưa chúng tôi một cái chuông để mang theo. Chúng tôi phải lắc chuông trong khi đi để cảnh báo những con gấu khi có người xung quanh. Gấu không tấn công con người có chủ đích. Ý tôi, chúng đúng hơn là loài ăn chay. Chúng không thiết phải tấn công con người. Những gì xảy ra là chúng đột nhiên lao vào con người tại lãnh thổ của chúng, chúng bất ngờ, giận dữ và tấn công theo phản xạ. Nếu anh vừa đi vừa lắc chuông, chúng sẽ tránh anh. Hiểu chứ?”

“Tôi hiểu.”

“Nên đó là điều chúng tôi đang làm khi đó, vừa đi vừa lắc chuông. Chúng tôi đến nơi này khi không có ai khác ở quanh, và mọi thứ rất đường đột khi anh ta nói anh ấy muốn…làm chuyện đó. Tôi đại loại cũng thích ý kiến đó, vậy nên tôi nói ĐƯỢC THÔI, và chúng tôi rời khỏi nơi rậm rạp này đến nơi không bất kì ai thấy, và chúng tôi trải một tấm bạt nhựa. Nhưng tôi sợ những con gấu. Ý tôi là, nghĩ xem sẽ kinh khủng thế nào khi bị gấu tấn công từ phía sau khi đang làm tình chứ! Tôi sẽ không hề muốn chết theo cách đó. Anh cũng vậy chứ?”

Komura đồng ý rằng anh không muốn chết theo cách đó.

“Và rồi chúng tôi ở đó, vừa làm tình với một tay kia thì lắc chiếc chuông. Giữ như thế từ đầu đến khi xong xuôi. Đing-a-ling! Đing-a-ling!”

“Trong hai người thì ai lắc chuông?”

“Chúng tôi thay phiên. Chúng tôi trao đổi khi tay đã mỏi. Điều đó thực kì cục, lắc chuông suốt không ngừng khi đang làm chuyện đó! Tôi thỉnh thoảng nghĩ về nó thậm chí là bây giờ, khi đang làm tình, và tôi bắt đầu cười.”

Komura cũng cười một chút.

Shimao vỗ tay. “Ôi, điều đó thật tuyệt vời,” cô nói. “Bạn có thể cười, sau tất cả chuyện đó!”

“Tất nhiên là tôi có thể cười,” Komura nói, nhưng, khi nghĩ về nó, đây là lần đầu tiên anh cười kể từ rất lâu rồi. Lần cuối là khi nào nhỉ?

“Anh có phiền không nếu tôi tắm cùng anh?” Shimao hỏi.

“Không,” Komura nói.

Khi cô đang tắm, Komura xem một chương trình m.c.’d đa dạng cửa nghệ sĩ hài với giọng to khỏe. Anh không hề thấy buồn cười chút nào cả, nhưng anh không thể nói rằng đó là lỗi của chương trình hay bản thân anh. Anh uống bia và mở môt gói lạc rang từ tủ lạnh. Shimao ở trong nhà tắm rất lâu. Cuối cùng, cô đi ra không mặc gì ngoại trừ một chiếc khăn và ngồi trên thành giường. Thả chiếc khăn xuống, cô trượt người và nằm đó nhìn chăm chăm vào Komura.

“Lần cuối anh làm chuyện đó với vợ là khi nào?” cô hỏi.

“Cuối tháng mười, tôi nghĩ vậy.”

“Và không lần nào kể từ đó?”

“Không.”

“Không với bất kì ai khác?”

Komura nhắm mắt và gật đầu.

“Không một ai biết điều gì sẽ xảy đến cả,” Komura lặp lại.

“Đing-a-ling”, Shimao nói.

Sau một vài nỗ lực thất bại để làm tình với Shimao, Komura bỏ cuộc. Điều này chưa xảy ra với anh trước đây.

“Vầng!, Komura nói, nhưng thực tế điều mà anh nghĩ đến là trận động đất. Những hình ảnh của nó nối tiếp đến anh, như một bản trình chiếu, lóe trên màn hình và phai mờ đi. Những đường cao tốc, những ngọn lửa, những khố đổ nát. Anh không thể thoát ra những bức ảnh câm lặng ấy.

Shimao đặt tai cô lên ngực trần của anh.

“Những điều này ắt xảy đến.” cô nói

“Uh-huh.”

“Anh không nên để chúng bận tâm anh.”

“Anh đã cố không,” Komura nói.

“Dẫu thế đàn ông luôn bị bận tâm bởi chúng.”

Komura không nói gì.

Shimao chơi đùa với đầu ngực của anh.

“Anh nói vợ anh có để lại giấy, đúng thế không?”

“Đúng thế.”

“Nó viết gì?”

“Rằng ở với anh giống như sống chung với một khối không khí vậy.”

“Một khối không khí?” Shimao nghiêng đầu nhìn lên Komura. “Nó nghĩa là gì?”

“Điều đó có nghĩa trong anh không có gì cả, anh đoán thế.”

“Có thật là thế không?”

“Có thể,” Komura nói. “Dù vậy anh không chắc, Có thể trong anh không có thứ gì cả? Nhưng nếu có thì nó sẽ là gì?”

“Phải, đúng thế, hãy nghĩ về điều đó. Nếu có thì sẽ là gì? Mẹ em luôn phát cuồng về da cá hồi. Bà luôn mơ ước có loài cái hồi chỉ có toàn là da. Thế nên có thể một vài trường hợp sẽ tốt hơn khi bên trong chúng trống rỗng. Anh có nghĩ vậy không?”

Komura cố hình dung một con cá hồi chỉ toàn là da sẽ như thế nào. Nhưng thậm chí nếu có một thứ như thế, thì không phải là da của chúng cũng sẽ ở bên trong luôn sao? Komura hít một hơi sâu, nâng và rồi đặt đầu Shimao vào ngực anh.

“Dù sao thì em sẽ nói với anh điều này,” Shimao nói. “Em không biết dù có hay không có thứ gì bên trong anh, nhưng anh là con người tuyệt vời. Em cá rằng trên thế giới có vô vàn người phụ nữ có thể hiểu và yêu anh.”

“Nó cũng có đề cập đến.”

“Gì? tờ giấy của vợ anh?”

“Uh-huh.”

“Không đùa chứ,” Shimao nói. Khuyên tai cô cạ vào làn da trên ngực anh.

“Nghĩ về nó nào,” Komura nói, “Cái thứ gì đó bên trong chiếc hộp mà anh mang đến đây?”

“Điều đó làm anh bận tâm?”

“Trước đây thì không. Nhưng giờ, anh không biết, điều đó cũng bắt đầu rồi.”

“Từ khi nào?”

“Từ lúc này.”

“Đột nhiên sao?”

“Phải, một khi anh nghĩ về nó, là điều đột nhiên.”

“Em phân vân vì sao nó bắt đầu bận tâm anh bất chợt như thế.”

Komura nhìn chăm chăm vào trần nhà một chặp. “Anh tự hỏi.”

Cả hai nghe tiếng rít của gió. Cơn gió đến từ miền không tên thổi đến Komura, và nó tạt qua nhanh chóng, đến một nơi anh không biết đến.

“Em sẽ nói với anh vì sao,” Shimao nói bằng giọng trầm. Anh không hề biết kể từ khi anh mang nó đến rồi đưa cho Keiko từ chính tay anh. Giờ anh sẽ không bao giờ có lại nó.”

Komura nhấc mình khỏi đệm và nhìn người phụ nữ. Chiếc mũi nhỏ nhắn, nốt ruồi trên đáy tai. Ở một căn phòng yên ắng, tim anh đập dồn cùng với âm thanh khô khốc. Xương anh phát thành tiếng khi nhoài người về phía trước. Trong thoáng chốc, Komura cảm thấy như anh sắp sửa thực hiện hành vi bạo lực vô cùng nghiêm trọng.

“Chỉ đùa thôi,” Shimao nói, khi cô nhìn thấy ánh nhìn trên mặt anh. “Em thường nói điều đầu tiên nảy ra trong đầu. Đó là câu nói đùa tệ hại. Em xin lỗi. Em không có ý tổn thương anh.”

Komura kìm nén và vùi đầu trong gối. Anh nhắm mắt và hít một hơi sâu. Chiếc giường to lớn trải ra xung quanh như biển trong đêm tối. Tim anh vẫn đập thình thịch.”

“Có phải anh bắt đầu có cảm giác như trải qua một chặng đường dài không?” Shimao hỏi.

“Hừm. Giờ anh thấy như thể anh đã đi một chằng đường rất dài,” Komura trả lời thành thực.

Shimao miết đầu ngón tay trên ngực Komura một hình thể phức tạp như thể cô đang làm phép vậy.

“Nhưng thực tế,” cô nói, “anh chỉ mới ở điểm khởi đầu.” ♦
(Dịch từ nguyên bản tiếng Nhật bởi Jay Rubin.)

http://www.newyorker.com/magazine/2011/03/28/u-f-o-in-kushiro-haruki-murakami

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s