Khi có được ba điều kiện đã nêu, sự sáng tạo mang tính xây dựng sẽ xảy đến. Nhưng chúng ta không thể trông đợi một sự mô tả chính xác về hành vi sáng tạo, bởi vì do bản chất của nó, là dường như không thể diễn tả nổi. Đây là cõi vô tri mà chúng ta phải nhận như bất-khả-tri cho tới khi nó xảy đến. Đây là điều không chắc xảy ra trở thành điều xảy ra. Chỉ bằng một cách rất chung chung, chúng ta có thể nói được là hành vi sáng tạo là sự vận hành tự nhiên của một cơ chế (‘organism’: đỉnh điểm) có khuynh hướng trồi lên khi cơ chế ấy mở ra đón nhận tất cả kinh nghiệm bên trong và bên ngoài của nó, và khi nó được tự do thử nghiệm theo cách uyển chuyển tất cả những phương thế trong sự liên hệ. Từ số đông đảo những khả năng đang được thai nghén, cơ chế ấy, như một máy tính tinh vi tuyển chọn cái này vì nó đáp ứng một cách hữu hiệu nhất một nhu cầu nội tâm, hay cái kia, vì nó tạo nên một liên hệ hữu hiệu hơn với môi trường, hay cái kia nữa vì nó khám phá ra một trật tự đơn giản và thỏa đáng hơn để nhận thức cuộc đời.

Dù sao cũng có một đặc tính của hành vi sáng tạo có thể mô tả được. Trong hầu hết các sáng tác, chúng ta thường nhận ra sự chọn lọc, hay nhấn mạnh, sự sắp xếp theo trật tự nào đó, và sự nỗ lực làm lộ ra điều chính yếu. Họa sĩ vẽ những bình diện hay những mẫu vải bằng thể đơn giản hóa, không thèm biết tới những biến thiên tỉ mỉ có trong thực tế. Nhà khoa học phát biểu một định luật cơ bản về những liên hệ, gạt ra ngoài những biến cố hay những hoàn cảnh đặc biệt, có thể che dấu vẻ đẹp đơn giản của nó. Nhà văn chọn lựa những từ và những câu, khiến sự diễn đạt của ông có sự nhất quán. Chúng ta có thể nói rằng điều này là do ảnh hưởng của một nhân vật đặc biệt, của cái “Tôi nào đó.

Thực tế hiện hữu trong sự phức tạp của nhiều sự kiện rắc rối, nhưng “Tôi” đưa ra một cấu trúc cho mối liên hệ của tôi với thực tế; tôi có cung cách “của tôi” để nhận thức thực tế, và chính sự tuyển chọn đó (một cách vô thức chăng?) hay tính trừu tượng khiến cho những sáng tác có giá trị thẩm mỹ.

Mặc dầu chúng ta không thể đi xa hơn khi mô tả bất kỳ mặt nào của hành vi sáng tạo, có một vài sự kiện đồng thời của nó trong cá nhân có thể đề cập tới. Trước hết là điều mà chúng ta có thể gọi là tình cảm Eureka – “Đây rồi!” “Tôi đã khám phá ra rồi!”, “Đây chính là điều tôi muốn diễn đạt!”

Một sự phát sinh đồng thời khác là khắc khoải về cô đơn. Tôi không tin là có nhiều sáng tác đầy ý nghĩa đã được thành hình mà không có thứ tình cảm “Tôi cô đơn”. Trước đây không có ai làm việc này. Tôi đã mạo hiểm vào lãnh địa mà chưa ai tới. Có lẽ tôi điên khùng, hay sai lầm, hoặc lạc đàn, hay bất bình thường.

Còn một kinh nghiệm khác đi kèm với sự sáng tạo là khao khát truyền đạt. Tôi nghi ngờ rằng có người có thể sáng tạo mà không mong muốn chia sẻ sự sáng tạo của mình. Đó là đường lối duy nhất mà người ấy có thể xoa dịu sự khắc khoải về lạc loài của mình và trấn an mình là mình vẫn thuộc về tập thể. Người ấy có thể chỉ ký thác những định lý của mình trong nhật ký riêng. Người ấy có thể viết những khám phá của mình bằng một thứ mật mã. Người ấy có thể cất dấu những bài thơ của mình trong hộc tủ có khóa. Người ấy có thể cất những bức tranh của mình trong một cái tủ. Nhưng người ấy khao khát truyền đạt tới một nhóm người sẽ hiểu người ấy, dù cho phải tưởng tượng ra một nhóm như vậy. Người ấy không sáng tạo để truyền đạt, nhưng một khi đã sáng tác rồi người ấy trong liên hệ của ông với môi trường, cùng người khác.

Tiếp Theo: I. Diễn Trình Sáng Tạo (Kết)I. Diễn Trình Sáng Tạo (Kết)

Advertisements

One thought on “H. Diễn Trình Sáng Tạo (Ego)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s