Cuốn sách ‘The world is flat’ của Thomas Friedman sẽ đáp ứng gần như đầy đủ ngữ nghĩa của câu hỏi ‘thế giới phẳng là gì?’.

Nội dung chính mà cuốn sách đề cập đến là sự vận động và chuyển mình của thế giới trong giai đoạn toàn cầu hóa thuộc thế kỉ 21, những thay đổi và hệ quả trong quá trình và sau quá trình đó. Trong đó, đề cập đến mười nhân tố lớn liên quan đến kinh tế, khoa học kỹ thuật trên thế giới tạo ra tác động lên các mô hình xã hội chính trị và xã hội, tạo điều kiện cho việc tương tác giữa người với người chặt chẽ và thuận tiện hơn, thế giới vào thời điểm này được nhận định là ‘phẳng’ hơn bao giờ hết.

Mười nhân tố làm ‘phẳng’ thế giới

world-is-flat-decal

  1. Sự sụp đổ của Bức tường Berlin vào ngày 9 tháng 11 năm 1989 và sự lớn mạnh của phần mềm Windows đã “làm nghiêng cán cân quyền lực” (tr. 82) về tay những ai cổ súy hướng phát triển thị trường tự do và cách quản lý từ cơ sở lên trung ương chứ không phải theo hướng ngược lại. Các cách tổ chức hành chính và quản lý bắt đầu được tiến hành theo hướng nằm ngang thay vì theo trục thẳng đứng khi mọi người đều được trao quyền tự do và bình đẳng trong cuộc sống. Sự kiện này giúp các nước thay đổi cách tư duy về thế giới theo một thể thống nhất toàn cầu, và nó thúc đẩy việc khai thác tri thức của nhau trong khoảng thời gian ngắn nhất. Một tác nhân không kém phần quan trọng trong thời kỳ phát triển rực rỡ của nền kinh tế tri thức toàn cầu là sự ra đời, cải tiến liên tục của máy tính cá nhân và phần mềm Windows (được dịch ra 38 ngôn ngữ), tạo điều kiện tốt cho cuộc cách mạng thông tin toàn cầu. Hai sự kiện này giúp nhân loại xích lại gần nhau hơn trong phạm vi xử lý công việc, giao tiếp và chia sẻ thông tin giữa các cá nhân.
  2. Sự ra đời của mạng web với sự xuất hiện của mạng toàn cầu với www. vào năm 1991 do ông Tim Berners-Lee thiết kế, đã giúp các nhà khoa học chia sẻ kết quả nghiên cứu và giúp người ta truy cập thông tin nhanh hơn bao giờ hết. Hệ thống ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản HTML, định vị tài nguyên duy nhất URL hay giao thức truyền siêu văn bản HTTP, v.v… đã cho phép những người bình thường với kiến thức mạng có thể làm chủ các trang web và kết nối với các nguồn tài liệu khác trên toàn cầu, và nó thật sự giúp nhân loại tiến lại gần nhau hơn, không những trong giao tiếp điện tử mà còn cả việc truyền tải và truy cập thông tin (tr. 97). Sự ra đời của cáp quang thương mại băng rộng có tín hiệu cao và được truyền tới khoảng cách xa bằng vận tốc nhanh nhất đã tạo ra cuộc cạnh tranh và cải tiến vượt bậc của các công ty viễn thông. Ngoài ra, cuộc cách mạng kỹ thuật số trong hầu như các lĩnh vực kinh tế và giải trí chủ đạo đã dẫn đến sự bùng nổ giao dịch chứng khoán của các công ty dot.com (công ty kinh doanh trên Internet). Sự kiện này khiến cho cá nhân có thể tiếp cận các sản phẩm số dễ dàng hơn và có thể tương tác thương mại với các cá nhân khác trên phạm vi toàn cầu.
  3. Phần mềm xử lý công việc là một nhân tố làm phẳng khác. Các công việc kinh doanh và thương mại bây giờ hầu như được thực hiện thông qua sự kết hợp giữa máy tính cá nhân với Windows và mạng, cho phép nhân viên kiểm soát nội dung số các dữ liệu. Đặc biệt giao thức truyền thư đơn giản SMTP, giao thức kiểm soát truyền thông tin/giao thức Internet TCP/IP được ví như đường ray xe lửa, thúc đẩy việc trao đổi các thông tin điện tử giữa các máy tính khác nhau dễ dàng hơn. Với sự phát triển của thương mại điện tử (E-Commerce), các giao dịch thương mại được thực hiện dựa trên các chuẩn mực mới. Công việc được chia nhỏ ra thành các công đoạn khác nhau, và hệ thống phần mềm cho phép các cá nhân thực hiện ở mọi nơi trên thế giới. Khái niệm kết nối và sử dụng (plug and play) đã thúc đẩy sự cạnh tranh kinh tế toàn cầu ở hình thái cộng tác và cùng xây dựng liên minh.
  4. Tải lên mạng và mã nguồn mở do cộng đồng phát triển đã giúp các cá nhân có nhiều tiếng nói và được lắng nghe hơn bao giờ hết. Quyền lực mới của các cư dân mạng (net citizens) là khả năng gửi các ý tưởng, sản phẩm hay chia sẻ kinh nghiệm và quan điểm với các cá nhân và cộng đồng khác thông qua mã nguồn mở. Sự phân phối lại quyền lực này được thực hiện ngoài thể chế truyền thống áp đặt từ trên xuống dưới và giúp cho các cá nhân không chỉ đơn thuần là người sử dụng thông tin, mà họ còn là người sản xuất thông tin trên các công cụ điện tử như blogging (với khoảng 24 triệu blogs), hay bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Tác nhân này thúc đẩy sự ra đời và lớn mạnh của nghề báo công dân (civic journalism) khi độc giả cũng có thể trở thành người đóng góp tin tức và bình luận. Tuy nhiên, không phải các thông tin đều được sử dụng đúng mục đích hay kiến thức mới được sản sinh một cách xác thực và khoa học. Mã nguồn mở cũng là công cụ đắc lực cho các thế lực tội phạm khủng bố, tin tặc hay những kẻ xuyên tạc sử dụng để gây ảnh hưởng xấu lên cả cộng đồng quốc tế.
  5. Thuê nguồn lao động từ bên ngoài là một hoạt động thuê lao động nước ngoài thực hiện một số công đoạn mà mình không thể thực hiện được và sau đó gắn kết quả thực hiện vào dây chuyền sản xuất chung của mình. Tận dụng vào nguồn lao động có kỹ năng cao và rẻ tiền cộng với sự chênh lệch múi giờ địa lý ở các nước đang phát triển, các nước phát triển có thể khai thác năng lực trí tuệ của các công nhân tri thức ở đây. Yếu tố đầu tiên tác động đến trào lưu này là sự kiện Y2K khi Mỹ và Ấn Độ cùng hợp tác để giải quyết sự cố máy tính. Bằng cách sử dụng các trạm kết nối cáp quang, các chuyên gia hai nước có thể thực hiện các hoạt động điều chỉnh máy tính cách nhau nửa vòng trái đất. Sự hợp tác Y2K này là một ví dụ điển hình về sự hợp tác và phân công lao động quốc tế dựa vào công nghệ thông tin và sự di cư lao động xuyên quốc gia.
  6. Chuyển sản xuất ra nước ngoài cũng góp phần làm phẳng thế giới. Đây là quy trình di chuyển cơ sở sản xuất đến những nước có lao động dồi dào và thị trường tiêu thụ lớn dưới sự bảo hộ của các qui tắc thương mại quốc tế. Với việc gia nhập WTO năm 2001, Trung Quốc có thể thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến xây dựng nhà máy sản xuất, và họ trở thành một “mối đe dọa, một khách hàng, và một cơ hội” (tr. 216) cho các nước khác. Trung Quốc đã gây thiệt hại cho không ít các công nhân và ngành nghề chế tạo trên thế giới nhưng lại là “của trời cho” đối với người tiêu dùng vì sản phẩm mang giá cạnh tranh của họ. Điều này cũng kích thích sự cạnh tranh và cải thiện sản xuất từ các nước láng giềng và góp phần làm phẳng quá trình cạnh tranh thương mại quốc tế. Khái niệm “Trung Quốc + 1” (tr. 220) là một lời cảnh báo thông minh cho các nhà đầu tư khi họ không nên tập trung quá nhiều vốn vào một nước vì khả năng xảy ra rủi ro tài chính rất cao.
  7. Nhân tố thứ bảy là chuỗi cung, một phương pháp cộng tác theo chiều ngang giữa các nhà cung cấp sản phẩm và khách hàng với chi phí vận chuyển thấp nhất trong thời gian ngắn nhất và đáng tin cậy nhất. Với hệ thống bán lẻ lớn, Wal-Mart đã trực tiếp thương lượng với các nhà sản xuất để cắt giảm chi phí sản xuất, liên tục cải thiện chuỗi cung từ các nhà sản xuất đến trung tâm phân phối của họ, và thường xuyên cải thiện hệ thống thông tin để nắm bắt thị hiếu của khách hàng đồng thời thông báo ngay lập tức đến nhà sản xuất. Việc sử dụng các thiết bị truyền thông hiện đại hỗ trợ rất nhiều trong việc cắt giảm đáng kể các chi phí vận chuyển và lưu hàng tồn kho, giúp các sản phẩm khác nhau trên thế giới có thể đến tận tay người tiêu dùng với giá cả hợp lý nhất.
  8. Thuê dịch vụ và cung ứng hậu cần là một phương thức hợp tác nằm ngoài tầm quản lý của chuỗi cung khi nó có thể làm đồng bộ hóa các chuỗi cung bằng các công tác hậu cần cần thiết. Các công ty làm thuê này phục vụ và hỗ trợ cho các chuỗi cung hoạt động hiệu quả và nhanh chóng hơn. Hầu như đây là dịch vụ quản lý thứ ba (bên cạnh nhà sản xuất và người phân phối) giúp hàng hóa hay các yêu cầu khách hàng từ khắp nơi trên thế giới có thể được vận chuyển và giải quyết một cách nhanh chóng và hiệu quả, nó đã tạo ra một sân chơi khá công bằng cho những ai có năng lực làm công tác dịch vụ và cung cấp hậu cần tốt.
  9. Nhân tố thứ chín liên quan đến việc cung cấp thông tin. Với sự phát triển của Google (cách chơi chữ của “googol”, một con số đại diện bởi chữ số 1 và theo sau là hàng trăm con số 0, phản ánh phương châm sắp xếp khối lượng thông tin dường như vô tận và đưa lên mạng, tr. 272), Yahoo hay MSN, người ta có thể xây dựng và phát triển chuỗi cung cấp thông tin, kiến thức, giải trí và truyền thông mà không có ranh giới về giai cấp hay giáo dục. Các công cụ giao tiếp điện tử này đã thu hẹp trái đất hình cầu này lại, khi từng cá nhân có thể giao tiếp với các cá nhân khác mà họ có thể chưa bao giờ biết đến. Những cộng đồng di cư trên mạng này có thể sống trong những ngôi nhà ảo, và vì vậy sự an toàn hay tính bảo mật cá nhân không còn được như trước nữa.
  10. Các nhân tố xúc tác khác cũng góp phần làm phẳng thế giới. Nhân tố đầu tiên của nhóm này liên quan đến công nghệ thông tin khi nó có khả năng tính toán, lưu trữ và cung cấp đầu vào – đầu ra. Cuộc cách mạng số học giúp cho quá trình sản xuất, điều chỉnh và truyền phát thông tin đạt được tốc độ cao do chính các cá nhân thực hiện vì mục đích của riêng họ trên các thiết bị của họ. Nhân tố thứ hai là những bước tiến dài về các mã nguồn chia sẻ tài liệu theo hình thức đồng đẳng. Các bước đột phá về công nghệ liên lạc thông qua mạng, như điện thoại VoIP, cho phép chuyển các tín hiệu âm thanh thành tín hiệu số để gửi lên Internet và sau đó được chuyển thành tín hiệu âm thanh trở lại. Điều này đã tạo ra một cuộc cách mạng hóa trong ngành viễn thông, không những về việc nâng cao các thiết bị kỹ thuật mà còn cả việc cung cấp các dịch vụ với giá cả ưu đãi hơn. Nhân tố thứ tư là khả năng đàm thoại video khi doanh nhân có thể tham dự buổi họp quốc tế tại địa phương của mình thông qua một màn hình hiển thị cuộc họp ở nước ngoài. Công nghệ đồ họa với những tiến bộ trong trò chơi máy tính với những giao diện bắt mắt hơn là nhân tố xúc tác thứ năm. Yếu tố quan trọng thứ sáu là việc ứng dụng các thiết bị không dây trong công nghệ truyền thông.

Khi mười hay một số tác nhân cùng đồng thời diễn ra, các cá nhân dường như chịu sự tác động của toàn cầu hóa theo một chiều hướng khác. Tiến trình này không chỉ là sự trao đổi hay giao tiếp đơn thuần giữa các chính phủ hay các tập đoàn kinh tế mà là sự tương tác giữa các cá nhân dẫn đến sự thay đổi vai trò của họ trong cộng đồng quốc tế. Để có thể gia nhập tiến trình này, các cá nhân phải có những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Vì vậy, giáo dục đóng một vai trò hết sức quan trọng trong công tác đào tạo ra những công dân kiến thức hội đủ bốn chỉ số: IQ (chỉ số thông minh), EQ (chỉ số tình cảm), CQ (chỉ số tò mò, tìm hiểu), và PQ (chỉ số đam mê). Tuy nhiên, theo Friedman, một số nơi hay nhóm người vẫn không thể được tham gia vào sân chơi công bằng này cho dù quá trình làm phẳng đã đang diễn ra mạnh mẽ.

(nguồn trích dẫn:

http://vietsciences.free.fr/nhipcaubandoc/diemsach/thegioiphang.htm

http://vietsciences.org/timhieu/tramhoa/toancauhoa.htm

Friedman, T. L. (2006). Thế giới phẳng)

Thế giới phẳng: Tóm lược Lịch sử Thế giới Thế kỷ 21

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s